Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Cao Bằng - Infomation

Cao Bằng
Tỉnh
Thác Bản Giốc.jpg
Thác Bản Giốc nhìn từ Việt Nam
Địa lý
Tọa độ22°41′08″B 106°15′47″ĐTọa độ22°41′08″B 106°15′47″Đ
Diện tích6.707,9 km²[1]
 Tổng cộng515.000 người[1]
 Mật độ77 người/km²
Dân tộcTàyNùngH'Mông,
DaoViệtSán Chay
Hành chính
Quốc giaCờ Việt Nam Việt Nam
Tỉnh lỵThành phố Cao Bằng
 Chủ tịch UBNDNguyễn Hoàng Anh
 Chủ tịch HĐNDHà Ngọc Chiến
 Bí thư Tỉnh ủyHà Ngọc Chiến
Phân chia hành chính1 thành phố
12 huyện
Mã hành chínhVN-04
Mã bưu chính27xxxx
Mã điện thoại26
Biển số xe11
Webhttp://www.caobang.gov.vn/
Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc).

Địa lý[sửa]

Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333.403 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12" - 22°21'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105°16'15" - 106°50'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).
Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.
Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác như sông Quây Sơnsông Bắc Vọngsông Nho Quếsông Năngsông Neo hay sông Hiến.

Môi Trường[sửa]

Đa số diện tích Cao Bằng được che phủ bởi rừng vì thế không khí khá trong sạch ở các vùng nông thôn, các khu dân cư và ở trung tâm thị xã. Tuy nhiên do sản lượng quặng lớn cùng với sự khai thác bừa bãi và quản lý không nghiêm ngặt, các tuyến đường chính của Cao Bằng có mức độ ô nhiễm bụi cao. Nguồn nước sông đang bị ô nhiễm khá nặng do ý thức vứt rác bữa bãi của người dân cùng với ngành công nghiệp khai khoáng và khai thác cát đã làm cho các dòng sông ở đây bị ô nhiễm thu hẹp dòng chảy, hệ sinh thái bị ảnh hưởng. Đặc biệt ở các khu vực chợ và khu dân cư, nước sông có hiện tượng bốc mùi hôi thối. Các phương tiện giao thông trong tỉnh chủ yếu là xe máy, phương tiện ít làm cho mức tiêu thụ nhiên liệu không cao, Cao Bằng không bị ô nhiễm bởi các khí thải nhà kính và nhiều khí độc khác. Tuy nhiên, so với các địa phương khác của Việt Nam, Cao Bằng là một trong những tỉnh có khí hậu trong lành và ít ô nhiễm nhất.

Khí hậu[sửa]

Nhìn chung Cao Bằng có khí hậu ôn hòa dễ chịu. Với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương bắc. Tuy nhiên nhiệt độ của Cao Bằng chưa bao giờ xuống thấp quá 0 °C, hầu như vào mùa đông trên địa bàn toàn tỉnh không có băng tuyết (trừ một số vùng núi cao có băng đá xuất hiện vào mùa đông).
Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 32 °C và thấp trung bình từ 23 - 25 °C, nhiệt độ không lên đến 39 - 40 °C. Vào mùa đông, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 - 8 °C và trung bình cao từ 15 - 28 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6 - 8 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô. Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu.
  • Dân số toàn tỉnh là 507.183 người (theo điều tra dân số ngày 01/10/2009)[2]. Dân số trung bình năm 2009 là 510.884 người.
  • Các dân tộc ở Cao Bằng gồm Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1 %), H'Mông (10,1 %),
    Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay (1,4 %)... Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người[2].

Lịch sử[sửa]

Tỉnh Cao Bằng cùng với tỉnh Lạng Sơn thời nhà Lý-nhà Trần được gọi là châu Quảng Nguyên. Vùng đất này (Lạng Sơn + Cao Bằng) chính thức phụ thuộc vào Đại Việt từ năm 1039, đời vua Lý Thái Tông, sau khi đánh đuổi được Nùng Trí Cao.

Các đơn vị hành chính[sửa]


Một khu chợ tại tỉnh Cao Bằng

Dãy nhà bên Bằng Giang tại thành phố Cao Bằng

Những thay đổi và sáp nhập trong lịch sử[sửa]

  • Năm 1950, tỉnh Cao Bằng có 10 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hòa An, Nguyên Bình, Phú Thạch, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Trùng Khánh.
  • Năm 1958, huyện Trấn Biên đổi tên thành huyện Trà Lĩnh.
  • Năm 1963, thành lập thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc tỉnh Cao Bằng Quyết định số 26-CP ngày 14/03/1963. Đến năm 1981 chuyển thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc huyện Nguyên Bình Quyết định số 44-HĐBT ngày 01/09/1981.
  • Năm 1966, thành lập huyện Thông Nông trên cơ sở tách ra từ huyện Hà Quảng Quyết định số 67-CP ngày 07/04/1966.
  • Năm 1967, hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên hợp nhất thành huyện Quảng Hòa Quyết định số 27-CP ngày 08/03/1967.
  • Năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh Quyết định số 176-CP ngày 15/09/1969.
  • Ngày 27/12/1975, tỉnh Cao Bằng được sáp nhập với tỉnh Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng.
  • Ngày 29/12/1978 tái lập tỉnh Cao Bằng từ tỉnh Cao Lạng, đồng thời nhập hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng Nghị quyết của Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4, ngày 29/12/1978. Lúc đó tỉnh Cao Bằng có 11 huyện: Bảo Lạc, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Quảng Hòa, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Ngân Sơn, Chợ Rã.
  • Ngày 17/02/1979 quân Trung Quốc chiếm được thị xã Cao Bằng và đã hủy diệt hầu như toàn thị xã, các công trình kiến trúc đã bị phá tan tành, kể cả chùa chiền đền miếu. Khu di tích chủ tịch Hồ Chi Minh tại hang Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng cũng bị chúng đặt bom mìn phá sập cửa hang và các di tích của Bác, bức bia đá Bác viết khi vừa trở về Tổ Quốc cũng bị nứt làm đôi.
  • Năm 1981, tái lập huyện Hạ Lang từ các xã đã nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh Quyết định số 44-HĐBT ngày 01/09/1981.[cần dẫn nguồn]
  • Năm 1984, huyện Chợ Rã đổi tên thành huyện Ba Bể Quyết định số 144-HĐBT ngày 06/11/1984.
  • Năm 1996, trả hai huyện Ngân Sơn và Ba Bể về tỉnh Bắc Kạn mới tái lập.
  • Năm 2000, chia huyện Bảo Lạc thành huyện Bảo Lạc mới và huyện Bảo Lâm Nghị định số 52/2000/NĐ-CP ngày 25/09/2000.
  • Năm 2001, tái lập hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên từ huyện Quảng Hòa ngày 13 tháng 12 năm 2001 [1].
Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố và 12 huyện:
TênLoại hành chínhDân số 2003Diện tíchkm²thị trấn (đậm)
Cao Bằngthành phố51,386[3]55[3]phường: Hợp Giang, Tân Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Hoà Chung, Ngọc Xuân, Duyệt Chung,Hưng Đạo, Đề Thám.
Bảo Lạchuyện47,019[3]919[3]Bảo Lạc, Sơn Lộ, Đình Phùng, Hưng Đạo, Huy Giáp, Hồng An, Xuân Trường, Khánh Xuân, Phan Thanh, Hồng Trị, Cô Ba, Bảo Toàn, Cốc Pàng, Thượng Hà, Hưng Thịnh, Sơn Lập, Kim Cúc.
Bảo Lâmhuyện107,279[3]1457[3]Pác Miầu, Mông Ân, Thái Học, Thái Sơn, Nam Cao, Nam Quang, Tân Việt, Yên Thổ, Quảng Lâm, Thạch Lâm, Lý Bôn, Đức Hạnh, Vĩnh Quang, Vĩnh Phong
Hạ Langhuyện26,330[3]463[3]Hạ Lang, Thị Hoa, Thái Đức, Cô Ngân, Vinh Quý, Việt Chu, Quang Long, An Lạc, Kim Loan, Đức Quang, Thắng Lợi, Minh Long, Đồng Loan, Lý Quốc, Thanh Nhật
Hà Quảnghuyện34,113[3]454[3]Sóc Hà, Trường Hà, Kéo Yên, Lũng Nặm, Vân An, Cải Viên, Tổng Cọt, Nội Thôn, Hồng SĨ, Sĩ Hai, Mã Ba, Hạ Thôn, Phù Ngọc, Đào Ngạn, Xuân Hoà, Quý Quân, Nà Sac, Thượng Thôn, Vần Dính
Hòa Anhuyện72,104[3]656[3]Nước Hai, Dân Chủ, Đức Long, Công Trừng, Trương Lương, Bình Long, Nam Tuấn, Đại Tiến, Đức Xuân, Ngũ Lão, Bế Triều, Vĩnh Quang, Hồng Việt, Hoàng Tung, Bình Dương, Bạch Đằng, Lê Chung, Chu Trinh, Hà Trì, Quang Trung, Nguyễn Huệ,
Nguyên Bìnhhuyện39,153[3]837[3]Nguyên Bình, Tĩnh Túc, Thịnh Vượng, Hoa Thám, Lang Môn, Tam Kim, Hưng Đạo, Quang Thành, Thành Công, Phan Thanh, Mai Long, Ca Thành, Vũ Nông, Yên Lạc, Triệu Nguyên, Thể Dục, Thái Học, Minh Thanh, Bắc Hợp, Minh Tâm
Phục Hòahuyện102,974 [3]263[3]Hòa ThuậnTà Lùng, Mỹ Hưng, Hồng Đại, Cách Linh, Triệu Ẩu, Đại Sơn, Tiên Thành, Lương Thiện
Quảng Uyênhuyện42,544[3]383[3]Quảng Uyên, Bình Lăng, Cai Bộ, Chí Thảo, Đoài Khôn, Độc Lập, Hồng Định, Hạnh Phúc, Hồng Quang, Hoàng Hải, Phúc Sen, Phi Hải, Quốc Phong, Quảng Hưng, Quốc Dân, Tự Do, Ngọc Động
Thạch Anhuyện31,942[3]683[3]Đông Khê, Đức Long, Danh Sĩ, Lê Lợi, Đức Xuân, Trọng Con, Lê Lai, Thụy Hùng, Thị Ngân, Vân Trình, Thái Cương, Đức Thông, Quang Trọng, Minh Khai, Canh Tân, Kim Đồng
Thông Nônghuyện23,116[3]360[3]Thông Nông, Bình Lãng, Thanh Long, Lương Can, Yên Sơn, Đa Thông, Lương Thông, Vị Quang, Cần Yên, Cần Nông, Ngọc Động
Trà Lĩnhhuyện21,600[3]257[3]Hùng Quốc, Tri Phương, Cô Mười, Quang Hán, Quang Vinh, Lưu Ngọc, Cao Chương, Quốc Toản, Xuân Nội, Quang Trung
Trùng Khánhhuyện50,189[3]469[3]Trùng Khánh, Đàm Thủy, Chí Viễn, Phong Châu, Cao Thăng, Đoàn Côn, Thân Giáp, Thông Huề, Đức Hồng, Trung Phúc, Cảnh Tiên, Đình Minh, Đình Phong, Ngọc Khê, Ngọc Chung, Phong Nậm, Lăng Yên, Khâm Thành, Lăng Hiếu

Danh lam thắng cảnh và du lịch[sửa]

Nằm ở phía bắc vùng Việt Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc, Cao Bằng được thiên nhiên ưu đãi những tiềm năng du lịch phong phú.

Thắng cảnh[sửa]

Cao Bằng có núi, rừng, sông, suối trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, nguyên sinh. Khu vực thác Bản Giốc là một thắng cảnh đẹp. Thác nằm trên dòng chảy của sông Quây Sơn, thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh. Động Ngườm Ngao (hang hổ), thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh là thế giới của nhũ đá thiên nhiên gồm hàng nghìn hình khối khác nhau, có cái như đụn gạo, đụn vàng, đụn bạc, hình voi, rồng, hổ báo, mây trời, cây cối, hoa lá, chim muông. Ngoài ra phải kể đến hồ núi Thang Hen ở huyện Trà Lĩnh.

Du lịch văn hoá[sửa]

  • Cao Bằng là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam. Tiêu biểu như khu di tích lịch sử cách mạng Pác Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân về nước, sống và làm việc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập cho dân tộc từ năm 1941 đến 1945.
  • Khu di tích Kim Đồng được xây dựng gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân Rặng núi đá cao đồ sộ, tượng đài anh Kim Đồng với bộ quần áo nùng và tay nâng cao con chim bồ câu đưa thư, trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và Nhi đồng của tỉnh Cao Bằng, cả nước thường tụ hội tại đây cắm trại, vui chơi ca hát.
  • Khu di tích lịch sử Rừng Trần Hưng Đạo, nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét